Vườn đồi ở Suối Kiết thiếu nước nhất vào cuối mùa khô, khoảng tháng 2 tới tháng 4, đúng lúc nhiều cây ăn trái cần nước nuôi trái và cây non mới trồng dễ chết khô. Ba việc giúp vườn qua mùa khô: trữ nước mưa ngay từ mùa mưa bằng ao, hồ nhỏ; tưới tiết kiệm bằng nhỏ giọt hoặc phun gốc thay vì tưới tràn; và giữ ẩm cho đất bằng lớp phủ, chất hữu cơ để mỗi khối nước tưới được dùng lâu hơn.
Bài này nói về nước cho sản xuất: tưới vườn, tưới ruộng màu, nước cho chăn nuôi. Chuyện nước ăn uống và giếng gia đình có bài riêng trên trang. Các con số về dung tích ao hay lượng nước tưới không nêu cố định vì phụ thuộc cây, đất, tuổi vườn; phần ví dụ có ghi rõ là giả định.
Vì sao vườn đồi khó giữ nước
Ở vùng đồi không có sông lớn chảy qua, nước tưới chủ yếu đến từ ba nguồn: nước mưa trữ lại, nước ngầm qua giếng và nước suối nhỏ. Cả ba đều giảm mạnh vào cuối mùa khô. Trong khi đó, đất đồi xám pha cát giữ nước kém, nước tưới thấm nhanh xuống sâu quá tầm rễ; đất đỏ vàng bị nén chặt thì nước tưới lại chảy tràn trên mặt mà không thấm vào. Gió khô mùa khô làm đất và lá mất nước nhanh hơn.
Kết quả là nhiều vườn tưới rất nhiều mà cây vẫn thiếu nước: phần lớn nước bị mất do thấm sâu, bốc hơi, chảy tràn, chứ không vào được tới rễ. Tiết kiệm nước tưới vì vậy không chỉ là bớt tưới, mà là đưa nước đúng chỗ, đúng lúc, và giữ nước lại trong vùng rễ lâu hơn.
Một nghịch lý khác của vùng đồi là mùa mưa thừa nước. Nước mưa chảy tràn khỏi vườn, xuống khe, ra suối rồi đi mất, trong khi vài tháng sau vườn lại khát. Mỗi khối nước giữ lại được trong ao, trong đất vào mùa mưa là một khối nước khỏi phải bơm vào mùa khô.
Ở quy mô xóm, nếu nhiều hộ cùng khoan giếng, cùng bơm tưới vào những tuần căng nhất, mực nước ngầm có thể hạ nhanh, giếng nông của các hộ khác bị ảnh hưởng. Đây là lý do trữ nước mưa trên mặt đất, trong ao, nên là nguồn ưu tiên, còn giếng là nguồn bổ sung. Giếng khoan lớn cho tưới cũng có thể phải đăng ký với cơ quan quản lý tài nguyên nước tuỳ quy mô; hỏi chính quyền xã về quy định hiện hành.
Ao trữ nước mưa: những điểm cần tính khi đào
Vị trí. Đặt ao ở chỗ thấp trong vườn, nơi nước mưa chảy tràn tự nhiên dồn về, nhưng không chắn dòng chảy của khe, suối và không ở chỗ dễ sạt. Nên ở vị trí cao hơn phần vườn cần tưới nếu được, để có thể tưới tự chảy một phần.
Giữ nước. Đất xám pha cát thấm nhanh, ao không lót sẽ mất nước nhiều; lót bạt chuyên dụng là cách nhiều hộ dùng. Đất đỏ có sét giữ nước tốt hơn nhưng vẫn mất do thấm và bốc hơi.
Giảm bốc hơi. Mặt ao rộng, nông bốc hơi nhiều hơn ao sâu, hẹp có cùng dung tích. Trồng cây chắn gió quanh ao, che bớt nắng một phần mặt ao giúp giảm hao hụt trong mùa khô.
Dẫn nước vào ao. Làm rãnh dẫn nước mưa từ sườn đồi, từ mái nhà, sân phơi vào ao, có hố lắng trước khi vào ao để giữ bớt đất cát, tránh ao mau cạn đáy.
An toàn. Ao sâu, bờ dốc, lót bạt trơn là nguy cơ đuối nước, nhất là với trẻ em. Rào quanh ao, làm bậc hoặc dây bám ở một góc, dặn trẻ không tới gần ao một mình.
Thủ tục. Đào ao lớn trên đất nông nghiệp, nhất là trên đất trồng lúa, có thể liên quan quy định về chuyển đổi cơ cấu cây trồng hay sử dụng đất. Hỏi chính quyền xã trước khi đào.
So sánh các cách tưới thường dùng trong vườn đồi
So sánh định tính để chọn cách tưới phù hợp với cây, đất và vốn. Hiệu quả thực tế phụ thuộc lớn vào việc lắp đặt và vận hành.
| Cách tưới | Ưu điểm | Nhược điểm | Hợp với |
|---|---|---|---|
| Tưới tràn, tưới bằng ống mềm | Đầu tư thấp, dễ làm | Tốn nước nhiều, tốn công, nước chảy tràn trên dốc | Vườn nhỏ, cây non ít, nguồn nước dồi dào |
| Phun gốc (béc phun mưa nhỏ) | Phủ vùng rễ rộng, dễ quan sát, giá vừa phải | Bốc hơi nhiều hơn nhỏ giọt khi trời nắng gió | Cây ăn trái có tán rộng, đất cát |
| Nhỏ giọt | Tiết kiệm nước nhất, đưa nước sát rễ, có thể kết hợp bón phân | Đầu tư ban đầu cao, dễ tắc nếu nước bẩn, cần lọc | Cây giá trị cao, nguồn nước hạn chế |
| Tưới bằng xe bồn, can chở | Không cần hệ thống cố định | Rất tốn công, chỉ cứu cây tạm thời | Cứu cây non trong đợt hạn |
Nhiều vườn kết hợp: nhỏ giọt cho cây giá trị cao ở chỗ gần nguồn nước, phun gốc cho phần vườn còn lại, ống mềm cho cây non mới trồng dặm. Dù chọn cách nào, bộ lọc nước, áp lực bơm và việc kiểm tra định kỳ quyết định hệ thống có bền hay không.
Tưới bao nhiêu, tưới lúc nào: đọc đất chứ không đọc lịch
Câu hỏi "tưới mấy ngày một lần, mỗi lần bao nhiêu" không có đáp án chung, vì phụ thuộc loài cây, tuổi cây, loại đất và thời tiết; cây đang nuôi trái cần khác cây đang nghỉ, cây trên đất cát cần khác cây trên đất sét. Cách đơn giản để biết vườn có cần tưới không là kiểm tra độ ẩm đất ở tầng rễ: đào một lỗ nhỏ sâu khoảng một gang tay ở mép tán, bốc đất bóp trong tay. Đất còn ẩm, nắm lại thành khối thì chưa cần tưới; đất khô rời, nắm không thành khối thì cần tưới.
Tưới vào sáng sớm hoặc chiều muộn để giảm bốc hơi. Trên đất cát, chia nhỏ lượng tưới thành nhiều lần để nước không thấm quá sâu; trên đất sét nặng, tưới chậm để nước kịp thấm, tránh chảy tràn. Tưới vào vùng rễ hoạt động, thường là quanh mép tán, chứ không dồn sát gốc.
Với một số cây cần giai đoạn khô để phân hoá mầm hoa như điều hay một số cây ăn trái, tưới sai lúc có thể làm cây ra đọt lá thay vì ra hoa. Vì vậy lịch tưới phải theo đặc điểm từng cây, hỏi cán bộ kỹ thuật hay người trồng giỏi cùng loại cây trong vùng.
Giữ ẩm đất: tiết kiệm nước rẻ nhất
Mỗi khối nước tưới vào đất được giữ lại lâu hay chóng phụ thuộc vào chính đất. Lớp phủ trên mặt đất như rơm, lá khô, cỏ phát, vỏ trấu giảm bốc hơi rõ rệt, giữ mặt đất mát, giúp rễ tơ phát triển ở tầng mặt. Chất hữu cơ trong đất như phân chuồng hoai, phân xanh làm đất giữ nước tốt hơn, đặc biệt với đất xám pha cát.
Tạo bồn quanh gốc, nghiêng nhẹ vào trong, giúp nước tưới và nước mưa đọng lại quanh rễ thay vì chảy đi. Trên sườn dốc, làm bồn theo đường đồng mức hoặc bậc nhỏ quanh từng cây. Hàng cây chắn gió ở rìa vườn giảm tốc độ gió khô, giảm mất nước cho cả vườn; chọn cây chắn gió rễ không lấn mạnh sang hàng cây chính.
Những biện pháp này rẻ, làm được ngay, và có lợi cả trong mùa mưa: đất phủ ít xói, đất nhiều mùn thấm nước mưa tốt hơn, nạp thêm nước vào tầng nước ngầm.
Ví dụ giả định để thấy khác biệt: hai cây cùng tuổi, cùng tưới một lượng nước như nhau, một cây có lớp rơm phủ dày quanh gốc, một cây đất trống. Sau vài ngày nắng, đào thử sẽ thấy đất dưới lớp rơm còn ẩm mát, đất trống đã khô sâu. Cây có phủ có thể giãn lịch tưới, cây đất trống phải tưới lại sớm. Thử ngay trong vườn nhà là cách thuyết phục nhất.
Nước cho chăn nuôi, ruộng màu và vườn ươm
Ngoài cây lâu năm, nông hộ ở Suối Kiết còn cần nước cho bò, dê, heo, gà, cho ruộng màu và cho những luống cây giống. Gia súc cần nước uống sạch, đủ và đều đặn mỗi ngày, nhất là trong những tuần nóng nhất cuối mùa khô; bò thiếu nước giảm ăn, gầy nhanh. Máng uống nên đặt chỗ râm, cọ rửa thường xuyên, không để gia súc lội vào nguồn nước mà người dùng chung.
Ruộng màu và rau cần nước đều hơn cây lâu năm vì rễ nông, vòng đời ngắn. Nếu chỉ có nguồn nước hạn chế, nên ưu tiên những luống gần nguồn nước, chọn rau, màu ngắn ngày chịu hạn, trồng vào đầu hoặc cuối mùa mưa thay vì giữa mùa khô. Phủ rơm trên luống rau giảm đáng kể lượng nước cần tưới.
Vườn ươm cây giống, nếu nhà có làm, là nơi cần nước ổn định nhất: cây con trong bầu khô vài ngày có thể chết hàng loạt. Đặt vườn ươm gần nguồn nước, có lưới che nắng, có lịch tưới rõ ràng và người chịu trách nhiệm cụ thể. Nước tưới vườn ươm nên sạch, tránh nước ao đọng lâu có nhiều mầm bệnh.
Tưới kết hợp bón phân và giữ hệ thống bền
Hệ thống nhỏ giọt cho phép hoà phân bón tan vào nước tưới, đưa dinh dưỡng thẳng tới vùng rễ theo nhiều lần nhỏ. Cách này giúp cây dùng phân hiệu quả hơn, giảm phân bị rửa trôi, nhưng đòi hỏi chọn loại phân tan hoàn toàn, pha đúng nồng độ theo hướng dẫn và súc rửa đường ống sau khi bón để không đóng cặn, tắc béc.
Hệ thống tưới hỏng phần lớn vì tắc và rò. Bộ lọc cần được vệ sinh thường xuyên, nhất là khi dùng nước ao, nước suối có cặn, rêu. Cuối mùa khô, kiểm tra toàn bộ đường ống, thay đoạn hở, đầu nhỏ giọt bị tắc. Chuột, côn trùng cắn ống, máy cắt cỏ cắt ngang ống là những hư hỏng hay gặp. Nước ao, nước suối dùng cho tưới cũng cần tránh xa chỗ pha thuốc bảo vệ thực vật, chỗ chuồng trại.
Khi đầu tư hệ thống tưới, nên giữ lại bản vẽ đơn giản của đường ống chính, vị trí van, bộ lọc, công suất bơm. Mấy năm sau ai sửa chữa cũng biết đường đi; khi mở rộng vườn cũng biết hệ thống còn gánh thêm được bao nhiêu. Hỏi đơn vị lắp đặt về bảo hành, phụ tùng thay thế, và học cách tự xử lý những hỏng hóc đơn giản như thay béc, nối ống.
Câu hỏi thường gặp
Đào ao trữ nước bao lớn là đủ cho vườn?
Phụ thuộc diện tích vườn, loại cây, tuổi cây, độ dài mùa khô và lượng mất do thấm, bốc hơi. Cách tính là ước lượng nước cây cần trong những tháng khô nhất rồi cộng thêm hao hụt. Nên nhờ cán bộ kỹ thuật hoặc đơn vị lắp đặt tưới tính cho vườn cụ thể.
Tưới nhỏ giọt có hợp với cây cao su, điều không?
Cao su và điều trưởng thành ở vùng này thường sống nhờ nước trời, ít khi đầu tư tưới nhỏ giọt cho cả vườn. Hệ thống tưới thường dùng cho cây ăn trái giá trị cao hoặc vườn ươm, cây non. Với điều, tưới sai lúc còn có thể ảnh hưởng ra hoa.
Dùng nước suối để tưới có cần xin phép không?
Lấy nước nhỏ lẻ cho sinh hoạt, tưới vườn hộ gia đình thường khác với khai thác quy mô lớn. Khi đặt bơm lớn, làm đập tạm hay dẫn nước suối đi xa, có thể phải tuân theo quy định về tài nguyên nước và không được ảnh hưởng tới người dùng phía dưới. Hỏi chính quyền xã trước khi làm.
Làm sao giảm tiền điện bơm tưới?
Tưới đúng lúc, đúng lượng theo độ ẩm đất thay vì theo lịch cố định; dùng bơm có công suất hợp với hệ thống; tận dụng ao đặt cao để tưới tự chảy; giữ ẩm đất bằng lớp phủ để giảm số lần tưới. Kiểm tra rò rỉ đường ống cũng giảm đáng kể thời gian bơm.
Cây non mới trồng chết khô dù đã tưới, vì sao?
Có thể do tưới quá ít mỗi lần nên nước không tới rễ, tưới vào giữa trưa bốc hơi nhanh, đất quanh bầu cây bị nén không thấm, hoặc cây bị nóng gốc. Tưới đủ thấm, tủ gốc, che nắng tạm cho cây non và trồng đầu mùa mưa giúp cây vượt mùa khô đầu tiên.