Lúa ở xã Suối Kiết không trải thành cánh đồng lớn như vùng đồng bằng ven sông La Ngà, nằm về phía bắc so với Suối Kiết trong vùng Tánh Linh cũ, mà nằm trong những dải ruộng thung hẹp giữa các đồi và ruộng ven suối, phần lớn sống nhờ nước mưa và nước suối tại chỗ. Vì vậy lịch vụ ở đây chạy theo nước: vụ chính trong mùa mưa là vụ chắc ăn nhất; vụ khô chỉ làm được ở những chân ruộng giữ được nước hoặc có nguồn tưới. Hoa màu như bắp, đậu, khoai mì, rau được trồng trên đất thung cao hơn, trên ruộng sau lúa và xen trong vườn cây lâu năm còn non.
Bài này dành cho nông hộ có ruộng thung, ruộng ven suối ở Suối Kiết và Gia Huynh cũ, và cho người muốn hiểu vì sao cùng là Tánh Linh cũ mà cách làm lúa ở đây khác hẳn vựa lúa ven La Ngà. Kỹ thuật nêu theo nguyên lý; giống, phân, thuốc cụ thể cần theo khuyến cáo của cơ quan chuyên môn trong từng vụ.
Vựa lúa ven La Ngà và ruộng thung Suối Kiết: hai bức tranh khác nhau
Tánh Linh cũ cùng Đức Linh cũ từ lâu được xem là vựa lúa của tỉnh Bình Thuận cũ. Phần lớn diện tích lúa ấy nằm ở vùng đồng bằng phù sa dọc sông La Ngà, có các công trình thuỷ lợi phục vụ, làm được hai, ba vụ trong năm. Xã Suối Kiết nằm ở phía nam, trên vùng đồi, không có sông lớn chảy qua, nên không thuộc vùng lúa chính đó. Khi đọc tin "vựa lúa Tánh Linh", cần hiểu là nói về đồng bằng ven La Ngà, không phải đồi phía nam.
Ở Suối Kiết, ruộng lúa là những dải đất trũng dưới thung, nơi nước mưa từ sườn đồi dồn về và suối nhỏ chảy qua. Ruộng hẹp, nhiều bờ, có thửa uốn theo dòng suối. Đất ruộng thường sẫm màu hơn đất đồi nhờ chất hữu cơ tích tụ, nhưng có chỗ bị chua, có chỗ bị úng lâu sau mưa lớn, có chỗ thiếu nước ngay khi mưa ngớt vài tuần.
Với nhiều hộ, ruộng thung không phải nguồn thu chính mà là nguồn lương thực tại chỗ và nguồn rơm cho bò. Hiểu đúng vai trò ấy giúp quyết định đầu tư vừa phải: không chạy theo năng suất của vùng đồng bằng có tưới, mà tìm cách làm ổn định, ít rủi ro, ít chi phí.
Xếp vụ theo nước: ba kiểu chân ruộng thường gặp
Cách chia dưới đây dựa trên khả năng giữ nước, giúp từng hộ tự xếp vụ cho từng thửa. Tên gọi chỉ là mô tả, không phải phân loại chính thức.
| Kiểu chân ruộng | Đặc điểm nước | Vụ chính | Vụ phụ có thể làm |
|---|---|---|---|
| Ruộng cao ven thung | Chỉ có nước khi mưa, khô nhanh khi ngớt mưa | Lúa mùa mưa giống ngắn ngày, hoặc làm màu | Bắp, đậu đầu hoặc cuối mùa mưa |
| Ruộng giữa thung | Giữ nước khá trong mùa mưa, khô vào giữa mùa khô | Lúa vụ mùa mưa | Màu ngắn ngày sau lúa tận dụng ẩm độ |
| Ruộng trũng ven suối | Ẩm lâu, có thể úng sau mưa lớn, có nước gần quanh năm | Lúa mùa mưa, chọn giống chịu úng | Lúa hoặc rau vụ khô nếu chủ động được nước |
Điều quan trọng nhất khi xếp vụ là không để lúa trổ bông hay chín đúng lúc thiếu nước hoặc đúng lúc dễ úng nặng. Một vụ lúa ngắn ngày gieo đúng thời điểm thường an toàn hơn một vụ lúa dài ngày năng suất cao trên lý thuyết nhưng hay gặp hạn cuối vụ.
Mỗi thửa ruộng có "tính nết" riêng mà chỉ người làm lâu năm mới thuộc: góc nào úng trước, góc nào khô trước, chỗ nào chuột hay phá. Ghi lại những điều đó và truyền cho người kế tiếp trong nhà là cách giữ kinh nghiệm không bị mất khi người già không còn ra đồng.
Chọn giống và gieo cấy đúng lúc
Ruộng nhờ nước trời hợp với giống lúa ngắn ngày hoặc trung ngày, chịu được điều kiện bất lợi như hạn ngắn, úng ngắn, đất chua nhẹ. Nên chọn giống đã được khuyến cáo cho vùng, mua giống xác nhận có nguồn gốc ở cơ sở uy tín thay vì để giống nhiều vụ liền, vì giống để lâu dễ lẫn tạp, thoái hoá, nhiễm bệnh từ hạt.
Thời điểm gieo cấy vụ mùa mưa nên chờ mưa đã ổn định, ruộng đủ nước, chứ không gieo theo cơn mưa đầu mùa. Gieo quá sớm, gặp đợt nắng hạn giữa mùa mưa, mạ chết, phải gieo lại tốn giống, tốn công. Gieo quá muộn, lúa trổ khi mưa đã dứt, thiếu nước nuôi hạt, lép nhiều.
Lượng giống gieo nên vừa phải. Gieo dày tưởng chắc ăn nhưng lúa mọc chen chúc, yếu, dễ đổ ngã và dễ nhiễm sâu bệnh, lại tốn giống. Đây cũng là một trong những nội dung chính của chương trình "ba giảm ba tăng" mà ngành nông nghiệp đã khuyến cáo nhiều năm: giảm lượng giống, giảm phân đạm, giảm thuốc bảo vệ thực vật; tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế.
Giữ đất ruộng thung tốt lên qua từng vụ
Trả rơm rạ về ruộng. Rơm rạ vùi lại hoặc ủ hoai bổ sung chất hữu cơ, kali cho đất. Đốt rơm làm mất phần lớn chất hữu cơ và gây khói, cháy lan. Nếu cần rơm cho bò, có thể để lại gốc rạ và trả phân chuồng hoai về ruộng.
Bón phân cân đối, chia lần. Ruộng thung chua, nghèo lân là chuyện thường gặp; bón quá nhiều đạm làm lúa xanh tốt nhưng yếu, dễ đổ, dễ bệnh. Bón chia nhiều lần theo giai đoạn sinh trưởng giúp cây dùng phân hiệu quả hơn.
Cải tạo chua khi cần. Ruộng có dấu hiệu chua như nước đọng có váng gỉ sắt, lúa vàng lá, rễ đen cần được kiểm tra và cải tạo theo hướng dẫn chuyên môn, lượng vôi hay vật liệu cải tạo phải dựa trên đánh giá thực tế.
Luân canh lúa với màu. Xen một vụ đậu hay bắp vào lịch giúp cắt vòng đời sâu bệnh hại lúa, cây họ đậu còn để lại đạm cho đất. Luân canh cũng giúp đa dạng thu nhập.
Giữ bờ ruộng, mương thoát. Bờ ruộng chắc giữ được nước khi cần, mương thoát thông giúp xả úng nhanh sau mưa lớn. Ruộng ven suối nên có lối thoát nước riêng, không chặn dòng suối.
Phòng hại lúa theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp
Lúa ruộng thung có thể gặp các đối tượng quen thuộc của lúa Nam Bộ: rầy nâu, sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, chuột, ốc bươu vàng ở ruộng ngập. Quản lý dịch hại tổng hợp, thường gọi tắt là IPM, là cách tiếp cận đã được ngành nông nghiệp phổ biến rộng: ưu tiên các biện pháp canh tác và sinh học, chỉ dùng thuốc khi cần thiết và đúng cách.
Cụ thể: dùng giống khoẻ, gieo mật độ vừa phải, bón phân cân đối để cây khoẻ tự nhiên; gieo đồng loạt với các thửa xung quanh để sâu bệnh không có "cầu nối" từ ruộng này sang ruộng khác; thăm đồng thường xuyên để biết mật độ sâu, mức bệnh; bảo vệ thiên địch như nhện, bọ rùa, chuồn chuồn, ong ký sinh bằng cách không phun thuốc sớm, không phun định kỳ theo lịch.
Khi mật độ sâu hay mức bệnh vượt ngưỡng gây hại kinh tế theo hướng dẫn của cán bộ bảo vệ thực vật, mới cân nhắc dùng thuốc: chọn thuốc trong danh mục được phép, đúng đối tượng, theo hướng dẫn trên nhãn, có đồ bảo hộ và tuân thủ thời gian cách ly trước thu hoạch. Chuột và ốc thì hiệu quả nhất là diệt đồng loạt cả xóm, làm vệ sinh bờ bụi, nhặt ốc và trứng ốc thủ công.
Ruộng thung nằm sát suối nên càng cần cẩn thận: nước ruộng chảy ra suối mang theo những gì đã phun xuống. Pha thuốc xa bờ suối, không rửa bình ở mương, không xả nước ruộng ngay sau khi phun là những việc nhỏ giữ được nguồn nước cho cả các hộ phía dưới.
Hoa màu: bắp, đậu, khoai mì và rau trên đất thung
Hoa màu ở Suối Kiết thường thấy là bắp, các loại đậu, khoai mì, rau ăn lá, bầu bí, dưa. Chúng chiếm những chỗ không đủ nước làm lúa, những vụ ngắn trước hoặc sau lúa, và khoảng trống giữa hàng cây lâu năm còn nhỏ. Ưu điểm là vòng đời ngắn, quay vòng vốn nhanh, có rau ăn tại chỗ; nhược điểm là cần công chăm nhiều hơn, dễ bị hạn ngắn ngày làm hỏng, và đầu ra phụ thuộc thương lái từng vụ.
Khoai mì chịu đất nghèo, chịu hạn tốt nên hay được trồng trên đất đồi xám, nhưng trồng khoai mì liên tục nhiều năm trên đất dốc làm đất kiệt nhanh và xói mạnh, vì cây thưa tán, phải xới đất khi thu hoạch củ. Nếu trồng, nên luân canh với cây họ đậu, trồng theo đường đồng mức và bón bù hữu cơ.
Rau trồng gần nhà dùng nước giếng, nước ao tưới. Vì rau thu hoạch nhanh và ăn tươi, đây là nhóm cây cần đặc biệt cẩn thận với thuốc bảo vệ thực vật: ưu tiên biện pháp thủ công, lưới chắn côn trùng, và nếu phải dùng thuốc thì bắt buộc tuân thủ thời gian cách ly ghi trên nhãn, không thu hoạch sớm để bán.
Làm lúa nhỏ lẻ có còn đáng không
Câu hỏi nhiều hộ đặt ra: ruộng thung nhỏ, năng suất không cao, công thuê đắt, có nên tiếp tục làm lúa hay chuyển sang cây khác? Không có câu trả lời chung. Với hộ có bò, có người già ở nhà, muốn có gạo ăn và rơm cho bò, làm một vụ lúa mùa mưa ít chi phí vẫn là lựa chọn hợp lý. Với hộ thiếu người, ruộng xa nhà, có thể cân nhắc làm màu, trồng cỏ cho chăn nuôi hoặc cho người khác thuê lại.
Nếu muốn chuyển ruộng lúa sang cây trồng khác, cần biết rằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa có quy định riêng, thường phải đăng ký với chính quyền cấp xã và không được làm biến dạng mặt bằng ruộng tuỳ tiện. Hãy hỏi bộ phận địa chính, nông nghiệp của xã trước khi đào ao, đắp nền hay trồng cây lâu năm trên ruộng.
Một hướng khác ít được nhắc là làm chung: vài hộ có ruộng liền thung cùng thống nhất giống, cùng gieo một lúc, cùng thuê máy làm đất, máy gặt. Ruộng nhỏ lẻ khó gọi được máy, nhưng gom lại một cánh thì người có máy sẵn sàng vào hơn, chi phí trên mỗi công đất giảm, sâu bệnh cũng dễ quản lý hơn vì không có ruộng lệch vụ làm ổ.
Câu hỏi thường gặp
Ruộng ở Suối Kiết làm được mấy vụ lúa một năm?
Phần lớn ruộng thung nhờ nước trời chỉ làm chắc ăn một vụ trong mùa mưa. Những chân ruộng trũng ven suối giữ nước tốt hoặc có nguồn tưới có thể làm thêm vụ thứ hai hoặc vụ màu. Số vụ phụ thuộc vào nước của từng thửa, không có con số chung cho cả xã.
Có nên để giống lúa từ vụ trước để gieo tiếp không?
Có thể để giống một vụ nếu ruộng sạch bệnh và chọn lọc kỹ, nhưng để liên tục nhiều vụ thì giống dễ lẫn tạp, thoái hoá và mang mầm bệnh. Nên định kỳ thay bằng giống xác nhận mua ở cơ sở có nguồn gốc rõ ràng.
Ốc bươu vàng phá ruộng mới gieo thì làm sao?
Biện pháp hiệu quả và an toàn là nhặt ốc, ngắt bỏ ổ trứng màu hồng trên bờ, cắm cọc cho ốc bám đẻ để dễ thu gom, giữ mực nước thấp những ngày đầu sau gieo. Làm đồng loạt cả xóm sẽ hiệu quả hơn. Nếu cần dùng thuốc, phải theo hướng dẫn của cán bộ chuyên môn.
Đốt rơm rạ sau thu hoạch có hại gì không?
Đốt rơm làm mất phần lớn chất hữu cơ có thể trả lại cho đất, gây khói ảnh hưởng sức khoẻ và giao thông, có nguy cơ cháy lan sang vườn, rừng trong mùa khô. Vùi rơm, ủ rơm làm phân hoặc dùng làm thức ăn, chất độn chuồng cho bò là cách tốt hơn.
Chuyển ruộng lúa sang trồng cây ăn trái có được không?
Việc chuyển đổi cây trồng trên đất lúa có quy định riêng và thường phải đăng ký với chính quyền xã. Ngoài thủ tục, cần xem ruộng có bị úng không, vì nhiều cây ăn trái không chịu ngập. Hỏi cán bộ địa chính và nông nghiệp xã trước khi làm.