Ở Suối Kiết không có một giọng chung. Người lớn tuổi đi khai hoang thường giữ giọng quê từ phía Bắc hay miền Trung, còn con cháu sinh ra tại chỗ nói một giọng pha nghiêng về giọng Nam Bộ. Cách xưng hô vì thế cũng pha: nhiều nhà gọi con đầu là "hai" theo kiểu miền Nam, có nhà vẫn gọi "cả", và người ta quen chuyện đó.
Với người mới về sống, người đi làm xa lâu năm trở về hay người lần đầu đến làm ăn, nắm vài nguyên tắc xưng hô giúp tránh được những lúc lúng túng. Bài này giải thích vì sao giọng nói ở đây đa dạng, cách gọi thứ bậc trong nhà và trong xóm, vốn từ quen dùng trên rẫy, và cách nói chuyện cho phải phép với người lớn tuổi.
Vì sao một xã nhỏ lại có nhiều giọng đến vậy
Giọng nói đi theo người. Vùng đất khai hoang như Suối Kiết đón người từ nhiều tỉnh, mỗi đợt mang theo giọng quê của mình. Người cùng quê lại hay ở gần nhau, nên có xóm nghe giọng miền Trung đậm hơn, có xóm nhiều giọng Bắc hơn. Thêm vào đó là người Nam Bộ từ Đồng Nai, TP.HCM lên làm ăn, và đồng bào dân tộc thiểu số có tiếng nói riêng.
Thế hệ thứ hai, thứ ba lớn lên trong một môi trường khác hẳn cha mẹ. Đi học cùng bạn bè nhiều quê, xem truyền hình phía Nam, đi làm ở Đồng Nai, Bình Dương cũ hay TP.HCM, các em dần nói giọng Nam pha chút âm sắc của nhà. Nhiều gia đình có cảnh ông bà nói giọng Nghệ hay giọng Quảng, con nói giọng pha, cháu nói gần như giọng Sài Gòn. Đây là chuyện bình thường của mọi vùng đất mới.
Điều đáng quý là ít ai lấy giọng nói để phân biệt hơn kém. Trong một xóm rẫy, người ta đánh giá nhau qua chuyện làm ăn có đàng hoàng không, có giữ lời không, có giúp xóm giềng không. Giọng nói chỉ là cách người ta nhận ra nhau đến từ đâu, và thường là cái cớ để hỏi thăm quê quán khi mới quen.
Gọi thứ bậc trong nhà: "cả" hay "hai"
Khác biệt dễ gây nhầm nhất là cách gọi người con đầu. Bảng dưới so hai kiểu gọi phổ biến; ở Suối Kiết bạn sẽ gặp cả hai, đôi khi trong cùng một nhà.
| Thứ tự con | Kiểu gọi phổ biến ở miền Nam | Kiểu gọi phổ biến ở phía Bắc | Ghi chú khi nói chuyện |
|---|---|---|---|
| Con đầu | Hai (anh Hai, chị Hai) | Cả (anh cả, chị cả) | Nghe "anh Hai" là nói người con đầu, không phải con thứ hai |
| Con thứ hai | Ba | Hai | Dễ nhầm nhất khi hai nhà khác gốc nói chuyện |
| Con thứ ba | Tư | Ba | Miền Nam dùng "Tư" thay cho "Bốn" |
| Con út | Út | Út | Giống nhau ở cả hai kiểu |
| Gọi người lớn tuổi theo con | Chú Ba, cô Tư, bác Hai | Bác cả, chú hai | Ở xóm, gọi theo thứ là cách gọi thân mà vẫn lễ phép |
Khi không chắc người đối diện quen kiểu nào, cách an toàn là hỏi khéo: "Chú là con thứ mấy trong nhà ạ?" rồi gọi theo cách họ tự xưng. Người lớn tuổi thường vui khi được hỏi như vậy, vì đó là dấu hiệu mình được tôn trọng.
Vốn từ quen dùng trên rẫy và trong xóm
Người mới về hay người đi xa lâu ngày đôi khi nghe không kịp những từ rất bình thường ở đây. Đây là một số từ hay gặp trong chuyện làm ăn hằng ngày:
| Từ hay nghe | Nghĩa trong đời thường |
|---|---|
| Rẫy | Đất trồng trọt trên đồi, xa nhà, khác với vườn quanh nhà |
| Chòi rẫy | Căn chòi nhỏ dựng trên rẫy để nghỉ trưa, cất đồ, coi rẫy mùa thu hoạch |
| Đổi công, vần công | Các nhà làm giúp nhau theo lượt, hôm nay làm cho nhà này, mai làm cho nhà kia |
| Mướn công, làm công nhật | Thuê người làm theo ngày, trả công trong ngày hoặc cuối đợt |
| Cạo mủ | Công việc khai thác mủ cao su, thường đi từ rất sớm |
| Lượm điều, nhặt điều | Nhặt trái điều rụng dưới gốc mùa thu hoạch, tách hạt ra phơi |
| Lô, hàng | Cách chia đất cao su, điều theo từng khoảnh và hàng cây |
| Thương lái, mối | Người thu mua nông sản quen của nhà |
Nhiều từ trên dùng chung cho cả Đông Nam Bộ. Biết chúng không chỉ giúp nói chuyện trôi chảy, mà còn giúp bạn hiểu nhịp làm ăn của xóm: nghe "mai nhà bên đổi công" là biết hôm sau nhà bên vắng người từ sáng sớm.
Xưng hô với người lớn tuổi, người lạ và người làm việc công
Với người lớn tuổi trong xóm. Gọi bằng "bác", "chú", "cô", "dì" kèm thứ hoặc tên con là cách lịch sự và thân. Xưng "con" hoặc "cháu" tuỳ khoảng cách tuổi. Ở vùng có nhiều người miền Nam, "dạ" đầu câu và "ạ" cuối câu được xem là lễ phép, không bị coi là khách sáo.
Với người lạ trạc tuổi mình. Gọi "anh", "chị" là đủ. Người Nam Bộ hay gọi người lạ là "anh Hai", "chị Hai" để tỏ thân thiện, không có nghĩa họ là con đầu. Nếu bạn nghe gọi như vậy, cứ đáp tự nhiên.
Với người làm việc ở bộ phận một cửa, cán bộ thôn. Gọi "anh", "chị", "chú", "cô" theo tuổi là phù hợp, không cần gọi chức danh. Nói rõ việc mình cần, chuẩn bị giấy tờ trước, sẽ được việc hơn mọi cách xưng hô cầu kỳ.
Với đồng bào dân tộc thiểu số. Xưng hô như với mọi người cùng xóm, theo tuổi tác. Không dùng những cách gọi mang ý coi thường mà người ta đã quen nghe từ thời trước. Nếu không biết người đó muốn được gọi thế nào, cứ hỏi tên và gọi tên kèm "anh", "chị", "bác".
Với người thuê làm, người làm công cho mình. Vẫn giữ cách xưng hô theo tuổi. Ở xóm rẫy, người làm công hôm nay có thể là người nhà mình nhờ đổi công ngày mai, nên giữ lời ăn tiếng nói đàng hoàng là giữ quan hệ lâu dài.
Người đi làm xa trở về: giọng đã đổi, xóm có nhận ra không
Nhiều người Suối Kiết đi làm ở các khu công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương cũ hay TP.HCM nhiều năm. Khi về, giọng đã khác, cách nói có thêm từ thành phố. Điều này không làm ai phật lòng. Cái người lớn tuổi để ý hơn là cách chào hỏi: về xóm mà đi ngang không chào, gặp người quen không hỏi thăm, mới là điều bị nhắc.
Một thói quen tốt khi về là ghé chào những nhà thân của cha mẹ, nhất là nhà có người già. Không cần mang quà lớn; một lời hỏi thăm sức khoẻ, chuyện rẫy năm nay thế nào, là đủ. Người ở lại thường đánh giá người đi xa qua những việc nhỏ như vậy.
Với trẻ con sinh ra và lớn lên ở thành phố, theo cha mẹ về quê dịp Tết, nhiều em không quen cách gọi "bác Hai", "chú Ba". Cha mẹ có thể dặn trước vài người thân trong nhà, gọi thế nào, ai là ai. Trẻ không cần nhớ hết; nhớ chào khi gặp người lớn là đã đủ để ông bà ở quê vui.
Mấy điều nên tránh khi nói chuyện ở xóm
Trong một cộng đồng nhiều quê như Suối Kiết, có vài thói quen tưởng vô hại nhưng dễ làm người khác phật ý:
- Bắt chước giọng của một vùng quê để đùa. Người nghe có thể chính là người vùng đó.
- Gán tính nết cho cả một vùng: "người vùng này thì keo", "người vùng kia thì nóng". Những câu này làm tổn thương, và hầu như luôn sai.
- Gọi trống không với người lớn tuổi, kể cả khi đang bận việc trên rẫy.
- Nói to chuyện đất đai, ranh giới, nợ nần của nhà khác ở chỗ đông người. Ở xóm nhỏ, chuyện truyền đi rất nhanh.
- Dùng từ lóng thành phố với người già. Không sai, nhưng dễ làm cuộc nói chuyện xa cách.
Lời ăn tiếng nói ở nông thôn được nhớ lâu hơn ở thành phố. Một câu nói khéo khi mới về có thể giúp bạn được xóm giềng giúp đỡ suốt nhiều năm sau. Ngược lại, một câu chê bai quê quán người khác, dù nói đùa, có thể bị nhắc lại mỗi lần xóm có chuyện cần nhờ nhau.
Những câu quen miệng và ý tứ đằng sau
"Bữa nào ghé nhà chơi nghen." Nhiều khi là lời chào xã giao, không phải lời mời có ngày giờ. Nếu người ta thật sự mời, họ thường nói rõ: "Chủ nhật này nhà có đám, ghé ăn cơm nghen". Người mới về đừng vội đến nhà người ta chỉ vì một câu chào ngoài đường.
"Để coi đã." Trong chuyện làm ăn, câu này thường là cách từ chối nhẹ hoặc chưa muốn trả lời. Nếu bạn đang hỏi mua đất, hỏi thuê người làm, nghe câu này thì nên hỏi lại một lần cho rõ rồi để người ta suy nghĩ, không nài ép.
"Mai mốt." Nghĩa là "một ngày nào đó", không phải ngày mai hay ngày kia. Khi cần một lời hẹn có ngày, nên hỏi lại cụ thể: thứ mấy, buổi nào.
"Ăn cơm chưa?" Lời chào, không phải lời mời. Đáp "dạ con ăn rồi" hay "dạ chưa, chút về ăn" là đủ. Với người lớn tuổi ở quê, câu hỏi này cho thấy họ quý mình.
"Nhà đó làm ăn được." Câu khen nhưng cũng là cách xóm nói về một nhà có rẫy tốt, có mối bán chắc. Ở xóm, chuyện làm ăn của nhà nào ai cũng biết đại khái, nên tránh khoe khoang hoặc kể nợ nần của mình với người mới quen.
Nói chuyện làm ăn ở xóm: hỏi rõ, hẹn rõ, giữ lời
Ở xóm rẫy, nhiều giao dịch vẫn làm bằng lời: thuê người lượm điều, nhờ chở hàng, mua bán cây giống, mượn máy. Lời nói vì thế có sức nặng như giấy tờ. Người giữ lời được tin, người hứa rồi quên sẽ bị cả xóm nhớ. Với người mới về, đây là chỗ cần cẩn thận nhất trong giao tiếp.
Cách nói chuyện làm ăn ở đây thường vòng vo hơn ở thành phố. Người ta hỏi thăm nhà cửa, rẫy bãi, rồi mới vào chuyện chính. Đừng vì thế mà sốt ruột. Nhưng khi đã vào việc, nên nói rõ ba thứ: làm gì, khi nào, trả bao nhiêu và trả lúc nào. Những khoản lớn như mua bán đất, góp vốn, cho vay thì phải có giấy tờ đúng quy định, không dựa vào lời hứa.
Một thói quen tốt là nhắc lại lời hẹn trước khi chia tay: "Vậy sáng thứ Bảy anh qua lượm giúp, trưa em lo cơm, chiều trả công nghen." Câu nhắc lại vừa lịch sự vừa tránh hiểu lầm, nhất là khi hai người khác quê, mỗi người hiểu một từ theo một nghĩa.
Câu hỏi thường gặp
Người Suối Kiết nói giọng gì là chủ yếu?
Không có giọng chủ yếu cho cả xã. Người lớn tuổi thường giữ giọng quê phía Bắc hoặc miền Trung, còn người trẻ sinh ra tại chỗ nói giọng pha, nghiêng về giọng Nam Bộ. Mỗi xóm có thể nghe hơi khác nhau tuỳ người đến lập nghiệp ở đó.
Nghe gọi "anh Hai" có phải người đó là con thứ hai không?
Không. Theo cách gọi phổ biến ở miền Nam, "Hai" là người con đầu. Ngoài ra người Nam Bộ còn gọi người lạ là "anh Hai", "chị Hai" để tỏ thân thiện. Muốn chắc, bạn có thể hỏi người đó là con thứ mấy trong nhà.
Người mới về nên xưng hô với hàng xóm thế nào?
Gọi theo tuổi: bác, chú, cô, dì với người lớn hơn nhiều; anh, chị với người trạc tuổi. Xưng con hoặc cháu với người lớn tuổi, thêm "dạ" và "ạ" khi đáp. Khi đã quen, gọi theo thứ hoặc tên con của họ là cách thân mà vẫn lễ phép.
Có nên học vài từ địa phương trước khi về sống không?
Nên. Biết các từ như rẫy, chòi rẫy, đổi công, cạo mủ, lượm điều, thương lái giúp bạn hiểu chuyện hằng ngày của xóm và hỏi han đúng chỗ. Không cần dùng ngay; nghe hiểu là đủ cho những tháng đầu.
Trẻ con từ thành phố về quê không chịu chào người lớn thì sao?
Thường là do trẻ không biết gọi thế nào. Cha mẹ nên dặn trước vài người thân chính, chỉ cách chào đơn giản như "con chào bác", "con chào bà". Không nên ép trẻ trước đông người; làm mẫu vài lần là trẻ bắt chước theo.
Nói chuyện với đồng bào dân tộc thiểu số cần lưu ý gì?
Xưng hô theo tuổi tác như với mọi người, gọi tên kèm anh, chị, bác. Tránh những cách gọi mang ý coi thường. Nếu không chắc người đó muốn được gọi thế nào, hỏi thẳng một cách lịch sự là được trân trọng hơn là đoán.