Ngôi nhà ở Suối Kiết là cuốn sử nhỏ của vùng đất khai hoang. Lớp người đến đầu tiên ở lán tạm, nhà tranh vách đất; khi có của ăn của để, họ dựng lại nhà theo dáng quê cũ, có nhà ba gian kiểu phía Bắc, có nhà rộng hiên kiểu miền Trung, miền Nam; đến nay phần nhiều là nhà mái tôn, tường gạch, nhưng vẫn giữ những thứ mà nhà làm rẫy không thể thiếu: sân phơi, hiên rộng, chái bếp, kho chứa và vườn quanh nhà.
Bài này nhìn ngôi nhà dưới góc nếp sống: vì sao nhà ở đây có hình dáng như vậy, mỗi khoảng trong nhà gắn với việc gì của gia đình làm rẫy, và những gì đáng giữ lại khi xây mới. Chuyện kỹ thuật như chọn đất, làm nền, thoát nước thuộc mục sống và làm việc của trang; ở đây chỉ bàn chuyện con người sống trong ngôi nhà ấy thế nào.
Những năm đầu: lán tạm và nhà tranh vách đất
Giống nhiều vùng khai hoang ở Đông Nam Bộ và miền Trung, những gia đình đến đầu tiên thường dựng lán tạm ngay trên đất được chia hay đất mới mua: vài cây cột gỗ rừng, mái lợp tranh hoặc lá, vách che bằng phên tre, nền đất nện. Lán chỉ đủ che mưa nắng cho cả nhà ngủ và nấu ăn, trong khi mọi sức lực dồn vào việc phát rừng, làm rẫy cho kịp mùa.
Khi đã trụ được qua một, hai mùa, nhiều nhà dựng nhà tranh vách đất chắc chắn hơn: vách trộn đất với rơm hoặc cỏ, trát lên khung tre; mái tranh dày; cửa bằng phên hay ván gỗ. Loại nhà này mát về mùa nắng nhưng sợ mối mọt, sợ mưa tạt, mỗi vài năm phải thay mái. Những người lớn tuổi ở Suối Kiết hôm nay còn nhớ cảnh cả xóm góp tay lợp lại mái tranh trước mùa mưa.
Những năm ấy, ngôi nhà gần như không có đồ đạc: một bộ phản hoặc giường tre, cái chạn đựng chén bát, mấy cái lu chứa nước, bếp kiềng ba chân. Thứ quý nhất trong nhà nhiều khi là bao lúa giống, bao hạt giống, dụng cụ làm rẫy. Nhìn lại những năm đầu như vậy để hiểu vì sao thế hệ khai hoang rất quý từng viên gạch, từng tấm tôn của ngôi nhà sau này.
Chi tiết những năm cụ thể, số hộ, cách chia đất ở từng xóm của Suối Kiết và Gia Huynh cũ là chuyện của tư liệu địa phương và lời kể của chính người trong cuộc; bài này chỉ tả nét chung của nhà ở vùng khai hoang.
Nhà dựng theo dáng quê cũ
Khi có của ăn của để, nhiều gia đình dựng lại ngôi nhà theo hình dung về ngôi nhà ở quê. Người gốc Bắc hay làm nhà ba gian, gian giữa đặt bàn thờ ông bà và tiếp khách, hai gian bên để ngủ, bếp làm riêng một dãy thấp bên cạnh. Người gốc miền Trung có nhà với hiên trước rộng, mái thấp chống gió, có nhà làm thêm chái. Người gốc Nam Bộ ưa nhà rộng, nhiều cửa, hiên trước hiên sau thông thoáng.
Vật liệu thì theo những gì vùng này có: gỗ rừng ở thời còn được khai thác, rồi gạch, ngói, tôn khi đường sá thuận tiện hơn. Mái ngói từng là niềm tự hào, vì nó cho thấy gia đình đã qua thời tạm bợ. Về sau, mái tôn dần phổ biến vì nhẹ, rẻ, lợp nhanh, dù nóng hơn và ồn khi mưa.
Điều thú vị là sau vài chục năm, các kiểu nhà pha lẫn vào nhau. Nhà gốc Bắc làm thêm hiên rộng kiểu Nam để có chỗ phơi điều, ngồi uống trà buổi chiều; nhà gốc Nam học cách làm bếp riêng cho đỡ khói. Đi trong một xóm ở Suối Kiết, người tinh ý có thể đoán quê gốc của từng nhà qua dáng nhà, nhưng đoán sai cũng nhiều, vì người ta đã học của nhau quá lâu.
Gian giữa và bàn thờ ông bà: chỗ giữ nếp của một gia đình
Trong phần lớn các ngôi nhà ở Suối Kiết, dù làm theo kiểu nào, gian giữa vẫn là gian trang trọng nhất. Ở đó có bàn thờ ông bà theo phong tục của người Việt, có bộ bàn ghế tiếp khách, có khi treo ảnh cưới của cha mẹ, bằng khen của con cháu, tấm lịch năm. Đây là nơi cả nhà quây quần ngày giỗ, ngày Tết, nơi người lớn ngồi bàn chuyện hệ trọng.
Với những gia đình khai hoang, bàn thờ còn mang thêm một ý nghĩa: nhiều nhà mang theo di ảnh, bát nhang hay chỉ là tên tuổi ông bà từ quê cũ vào, đặt lên bàn thờ ở nhà mới như một cách nối gia đình ở đây với dòng họ ở quê. Mỗi nhà một nếp, tuỳ quê gốc và niềm tin riêng; người ngoài không cần hiểu hết, chỉ cần giữ ý tứ khi bước vào gian này.
Một vài phép lịch sự khi đến chơi nhà người khác ở quê: ăn mặc gọn gàng; không ngồi quay lưng về phía bàn thờ nếu chủ nhà chưa mời; không đặt đồ đạc, mũ nón lên bàn thờ; không chụp ảnh gian thờ khi chưa hỏi. Những điều này người lớn tuổi để ý, dù hiếm khi nói ra.
Nhà của người làm rẫy: mỗi khoảng một việc
Ngôi nhà ở xóm rẫy không chỉ để ở mà còn là nơi làm việc. Bảng dưới gom những khoảng không gian quen thuộc của một nhà làm rẫy ở Suối Kiết và việc gắn với chúng.
| Khoảng trong nhà | Dùng vào việc gì | Điều người trong nhà hay để ý |
|---|---|---|
| Sân trước | Phơi hạt điều, bắp, đậu, củi; nơi trẻ con chơi | Láng nền để phơi sạch, có bạt che khi mưa bất chợt |
| Hiên rộng | Ngồi nghỉ, tiếp khách quen, để xe, cất nông sản tạm | Mái hiên đủ rộng để mưa không tạt vào nhà |
| Gian giữa | Bàn thờ ông bà, tiếp khách, họp mặt gia đình | Giữ sạch sẽ, trang trọng |
| Chái, kho | Cất phân bón, bao hạt, dụng cụ, máy móc nhỏ | Khô ráo, tách xa chỗ ăn ngủ, khoá cẩn thận hoá chất |
| Bếp | Nấu ăn, có nhà còn bếp củi bên cạnh bếp gas | Thoáng khói, xa chỗ chứa củi khô, có nước sẵn |
| Giếng, chỗ rửa | Lấy nước sinh hoạt, rửa nông sản, giặt giũ | Không để nước thải và thuốc bảo vệ thực vật gần giếng |
| Vườn quanh nhà, chuồng trại | Rau ăn hằng ngày, cây ăn trái, nuôi gà, heo | Chuồng trại tách xa nhà ở và giếng nước |
Nhìn bảng này dễ hiểu vì sao người làm rẫy chuộng nhà có sân rộng, hiên rộng hơn là nhà nhiều phòng. Một ngôi nhà đẹp nhưng không có chỗ phơi điều, không có chỗ cất phân, sẽ bất tiện ngay từ mùa thu hoạch đầu tiên.
Bếp củi, bếp gas và chỗ ngồi của cả nhà
Ở nhiều nhà Suối Kiết, bếp củi vẫn sống cạnh bếp gas. Củi thì sẵn: cành điều tỉa, gốc cây cao su thanh lý, cành khô nhặt trên rẫy. Bếp củi dùng cho những việc nấu lâu như nấu bánh tét ngày Tết, kho cá, nấu cám heo, nấu nồi nước lớn khi có đám. Bếp gas dùng cho những bữa vội trước giờ đi rẫy.
Bếp củi gắn với nhiều ký ức của người lớn lên ở đây: ngồi canh nồi bánh đêm cuối năm, nướng củ khoai, trái bắp trong tro, nghe ông bà kể chuyện quê cũ. Nhưng bếp củi cũng có cái giá: khói ảnh hưởng đến phổi của người hay đứng bếp, nhất là phụ nữ lớn tuổi và trẻ nhỏ; nguy cơ cháy khi đống củi khô chất sát bếp. Nhiều nhà nay làm bếp củi ở chái riêng, có ống khói, để khói không vào gian ở.
Bữa cơm ở nhiều nhà vẫn dọn trên chiếu hay trên bộ ván gần bếp, chứ không phải trên bàn ăn. Giờ ăn theo giờ rẫy: bữa sáng rất sớm, bữa trưa có khi ăn trên rẫy, bữa tối là bữa đông đủ nhất. Người mới đến chơi nhà, nếu được mời ăn cơm, cứ ngồi theo chủ nhà sắp xếp và mời người lớn tuổi trước khi ăn, theo nếp chung của người Việt.
Vườn quanh nhà: kinh tế nhỏ và nếp sống
Gần như nhà nào ở xóm rẫy cũng có một khoảnh vườn quanh nhà, tách khỏi rẫy lớn. Vườn này trồng rau ăn hằng ngày như rau muống, mồng tơi, rau lang, rau thơm; vài gốc cây ăn trái như mít, xoài, chuối, đu đủ; vài bụi sả, ớt, gừng. Nuôi thêm ít gà, vịt, có nhà nuôi heo. Vườn nhà giúp gia đình đỡ tiền chợ đáng kể, nhất là những tháng chưa có tiền bán nông sản.
Vườn cũng là nơi giữ dấu quê cũ. Có nhà trồng bụi tre, hàng cau, giàn trầu như ngoài quê; có nhà gốc miền Trung trồng thêm vài gốc cây ăn trái quen thuộc của quê mình. Nhiều người già dành phần lớn thời gian ngày thường ở vườn nhà: tưới rau, cho gà ăn, nhặt cỏ. Đó vừa là việc, vừa là cách giữ sức khoẻ và niềm vui tuổi già.
Một điều người trong xóm hay nhắc nhau là tách vườn rau ăn của nhà khỏi khu phun thuốc trên rẫy, và không dùng chung bình phun thuốc cho vườn rau. Rau trong vườn nhà là thứ cả nhà ăn sống, ăn hằng ngày, nên giữ nó sạch là giữ sức khoẻ cho người già và trẻ nhỏ.
Nhà hôm nay: xây mới mà vẫn giữ những gì đáng giữ
Mấy chục năm qua, nhà ở Suối Kiết thay đổi nhanh. Nhiều nhà tranh, nhà ván đã thành nhà gạch mái tôn; một số nhà xây hai tầng, có nhà làm kiểu nhà ống như ở phố, nhất là dọc các trục đường chính. Tiền gửi về của con cái đi làm xa và những năm nông sản được giá là nguồn chính cho những ngôi nhà mới này.
Xây mới là chuyện tự nhiên, nhưng nhiều gia đình sau khi xây mới mới thấy tiếc: nhà kiểu phố đẹp nhưng không có hiên rộng để phơi, không có chỗ cất phân bón, nóng hầm vì mái thấp và ít cửa; cây cổ thụ trước sân bị chặt để lấy chỗ, mất bóng mát. Người đi trước khuyên: trước khi xây, nghĩ xem nhà mình sẽ làm gì trong ngôi nhà ấy mười năm tới, chứ không chỉ nhìn nhà hàng xóm.
Có những thứ đáng giữ lại: gốc cây do ông bà trồng từ ngày đầu khai hoang, cái giếng đào đầu tiên, tấm ván của căn nhà cũ làm thành bộ bàn ghế. Chúng không có nhiều giá trị tiền bạc, nhưng là cách con cháu biết ông bà mình đã bắt đầu từ đâu. Ở một vùng đất mới như Suối Kiết, những vật như vậy là di sản thật của gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Nhà ở của người khai hoang ở Suối Kiết ngày đầu như thế nào?
Theo nét chung của các vùng khai hoang, những gia đình đến đầu tiên thường ở lán tạm mái tranh, vách phên, rồi dựng nhà tranh vách đất khi trụ được qua vài mùa. Chi tiết cụ thể của từng xóm nên hỏi người lớn tuổi đã sống qua những năm ấy.
Vì sao nhà ở xóm rẫy thường có sân rộng, hiên rộng?
Vì nhà còn là nơi làm việc. Sân rộng để phơi hạt điều, bắp, đậu; hiên rộng để cất nông sản tạm, để xe, ngồi nghỉ và tránh mưa tạt. Nhà nhiều phòng mà thiếu sân, thiếu hiên sẽ bất tiện ngay từ mùa thu hoạch.
Có thể đoán quê gốc của một nhà qua kiểu nhà không?
Đôi khi. Nhà ba gian với bếp riêng hay gợi đến gốc phía Bắc, nhà rộng hiên nhiều cửa hay gợi đến gốc Nam Bộ. Nhưng sau mấy chục năm, các kiểu nhà đã pha lẫn vì người ta học của nhau, nên đoán sai cũng nhiều. Hỏi chủ nhà vẫn là cách chắc nhất.
Đến chơi nhà người lớn tuổi ở quê cần giữ ý gì ở gian giữa?
Gian giữa thường có bàn thờ ông bà nên cần ăn mặc gọn gàng, không đặt mũ nón, đồ đạc lên bàn thờ, không chụp ảnh gian thờ khi chưa hỏi và ngồi theo chỗ chủ nhà mời. Đây là phép lịch sự chung của người Việt, không phụ thuộc niềm tin riêng.
Còn dùng bếp củi trong nhà có hại gì không?
Khói bếp củi ảnh hưởng đến đường hô hấp của người hay đứng bếp, nhất là người già và trẻ nhỏ, và có nguy cơ cháy khi củi khô chất sát bếp. Nhiều nhà làm bếp củi ở chái riêng có ống khói, để củi cách xa bếp và giữ sẵn nước.
Xây nhà mới ở quê nên giữ lại gì của nhà cũ?
Nhiều gia đình giữ lại gốc cây do ông bà trồng, cái giếng đầu tiên, tấm ván hay cây cột của nhà cũ làm đồ dùng. Về công năng, nên giữ hiên rộng, sân phơi, chỗ cất nông sản và vườn quanh nhà, những thứ nhà làm rẫy cần dùng hằng ngày.