Quanh xã Suối Kiết có hai bức tranh rừng khác nhau: rừng tự nhiên còn lại chủ yếu ở các vùng núi của Tánh Linh cũ như khối Núi Ông, và rừng trồng cùng vườn cây lâu năm phủ trên các đồi thấp, nơi phần lớn đất đã chuyển sang sản xuất. Theo pháp luật về lâm nghiệp, rừng ở Việt Nam được chia thành ba loại theo mục đích: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất; mỗi loại có quy định riêng về việc được làm gì, không được làm gì.
Với người dân Suối Kiết và Gia Huynh cũ, hiểu chuyện rừng không chỉ là kiến thức: nó liên quan tới việc mua bán đất, xin giấy tờ, làm rẫy ở ven rừng, và giữ nguồn nước cho cả vùng. Nó cũng giải thích vì sao cùng là đồi xanh cây, có nơi được tự do canh tác, có nơi bị hạn chế nghiêm ngặt. Bài này nói về rừng ở góc tự nhiên và quản lý đất đai; còn chuyện tham quan, đi chơi quanh vùng thuộc một danh mục khác của trang.
Từ rừng già tới đồi rẫy: vùng đất đã thay đổi ra sao
Vùng đồi tây nam Bình Thuận cũ, giáp Đồng Nai, từng được rừng che phủ rộng. Qua nhiều thập kỷ, cùng với các đợt khai hoang lập làng, mở đường, làm đường sắt và phát triển cây công nghiệp, phần lớn đất đồi thấp quanh Suối Kiết đã chuyển thành rẫy, vườn cao su, vườn điều và các loại cây trồng khác. Rừng tự nhiên lùi về những nơi cao, dốc, xa đường, mà ở Tánh Linh cũ là các khối núi ở mạn bắc và mạn đông, trong đó có Núi Ông.
Quá trình này không riêng gì Suối Kiết; nó diễn ra trên cả dải đồi Đông Nam Bộ và rìa cao nguyên. Hệ quả là một vùng đất giàu sản lượng nông nghiệp hơn, đời sống người dân khá lên, nhưng cũng mất đi một phần khả năng giữ nước, giữ đất và nơi sống của nhiều loài động thực vật.
Hiểu lịch sử này giúp giải thích nhiều chuyện ngày nay: vì sao một số suối cạn nhanh hơn trước vào mùa khô, vì sao một số thửa đất trên giấy tờ vẫn mang mục đích lâm nghiệp dù trên thực tế đã là vườn cây, và vì sao chuyện ranh giới rừng vẫn là vấn đề nhạy cảm ở nhiều vùng đồi. Những câu chuyện về thời khai hoang thuộc mục lịch sử của trang; ở đây chỉ cần nhớ rằng mảnh vườn hôm nay từng là một phần của rừng.
Ba loại rừng theo pháp luật lâm nghiệp
Luật Lâm nghiệp năm 2017 phân rừng thành ba loại theo mục đích sử dụng chủ yếu. Bảng dưới tóm tắt ý nghĩa của từng loại ở mức phổ thông; chi tiết về quyền và nghĩa vụ cần đối chiếu văn bản hiện hành.
| Loại rừng | Mục đích chính | Ví dụ thường gặp | Điều người dân cần nhớ |
|---|---|---|---|
| Rừng đặc dụng | Bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, nghiên cứu, di tích, cảnh quan | Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên như Núi Ông | Quản lý nghiêm nhất; hầu hết hoạt động khai thác, lấn chiếm bị cấm |
| Rừng phòng hộ | Bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn, điều hoà khí hậu | Rừng đầu nguồn, rừng giữ nước cho hồ, sông | Hoạt động bị hạn chế; có thể có hình thức giao khoán bảo vệ |
| Rừng sản xuất | Cung cấp gỗ, lâm sản, kết hợp phòng hộ | Rừng trồng keo, bạch đàn, rừng tự nhiên được phép khai thác có kiểm soát | Được khai thác theo quy định, nhưng vẫn có thủ tục và nghĩa vụ |
Điều quan trọng: một khu đất có cây cối trên đó chưa chắc là rừng theo luật, và một khu đất trên thực tế là vườn cây vẫn có thể đang được ghi là đất lâm nghiệp trên hồ sơ. Cái quyết định là phân loại trên giấy tờ và quy hoạch, không phải những gì mắt thấy.
Rừng làm gì cho vùng đất đồi
Rừng tự nhiên trên các khối núi phía trên là nơi giữ nước cho cả vùng. Tán rừng nhiều tầng làm chậm mưa rơi xuống đất, lớp lá mục và mùn dày như một tấm thảm thấm nước, rễ cây mở đường cho nước ngấm sâu. Nước thấm vào rừng mùa mưa được nhả ra từ từ trong mùa khô, giữ cho suối và sông phía dưới còn nước lâu hơn. Khi rừng đầu nguồn mất, mưa xuống chảy tràn nhanh, lũ lên nhanh và cạn cũng nhanh.
Rừng còn giữ đất. Trên sườn dốc, rễ cây đan nhau như một tấm lưới, giảm sạt lở và xói mòn. Rừng điều hoà nhiệt độ cục bộ: dưới tán rừng mát hơn rõ rệt so với đồi trống. Rừng là nơi sống của nhiều loài chim, thú, bò sát, côn trùng, trong đó có loài giúp thụ phấn cho cây trồng, loài ăn sâu bọ hại.
Rừng trồng và vườn cây lâu năm như cao su, điều làm được một phần các việc trên, nhưng không bằng rừng tự nhiên: chúng ít tầng tán hơn, ít loài hơn, và theo chu kỳ khai thác lại có giai đoạn đất trống. Vì vậy một vùng đất có cả rừng tự nhiên ở trên và vườn cây ở dưới thường bền hơn một vùng chỉ toàn vườn cây.
Rừng trồng và vườn cây lâu năm trên đồi Suối Kiết
Cao su là "rừng" quen thuộc nhất. Những hàng cao su thẳng tắp phủ nhiều đồi quanh Suối Kiết, Gia Huynh cũ. Về mặt sinh thái, vườn cao su là cây trồng công nghiệp chứ không phải rừng tự nhiên, nhưng tán khép của nó vẫn che đất, giảm xói mòn và tạo bóng mát.
Điều tán rộng trên đất nghèo. Cây điều chịu được đất xám, đất cát nghèo, che phủ đất khá tốt khi đã lớn. Nhiều vạt điều già cũng là nơi trú ẩn của chim chóc trong vùng.
Rừng trồng gỗ ngắn ngày. Ở một số nơi trong vùng đồi Nam Bộ có rừng trồng keo, bạch đàn để lấy gỗ nguyên liệu. Loại rừng này cho thu nhập theo chu kỳ, nhưng lúc khai thác trắng là lúc đất dễ xói nhất.
Cây bản địa còn sót lại. Ven suối, góc rẫy, quanh nhà còn một số cây rừng cũ hoặc cây bản địa mọc lại. Giữ những cây này là giữ chỗ dựa cho chim, côn trùng có ích và giữ bờ đất.
Chu kỳ thay vườn là lúc nhạy cảm. Khi thanh lý vườn cao su già hay vườn điều cỗi để trồng lại, đồi trống trong một thời gian. Che phủ đất sớm, giữ lại dải cây ven suối và không đốt dọn tràn lan giúp vùng đất qua giai đoạn này mà ít mất đất, mất nước.
Sinh vật quanh vườn rẫy: những gì còn lại của rừng xưa
Dù rừng tự nhiên đã lùi xa, vùng đồi quanh Suối Kiết vẫn còn một thế giới sinh vật nhỏ sống chung với vườn rẫy. Các loài thường gặp ở vùng đồi Nam Bộ như sóc, chuột, chim sâu, chào mào, cu gáy, chim cú, các loài rắn, thằn lằn, ếch nhái, ong, bướm và vô số côn trùng vẫn có mặt ở ven suối, bờ rẫy, bụi tre, gốc cây già. Danh sách cụ thể cho từng khu chỉ có được qua khảo sát; bài này không kể tên loài quý hiếm nào vì không có số liệu chắc chắn.
Nhiều loài trong số đó có ích cho nhà nông. Chim ăn sâu bọ, cú và rắn bắt chuột, ong và côn trùng thụ phấn cho cây ăn trái, điều, các loài thiên địch như nhện, bọ rùa, kiến vàng giúp giữ sâu hại ở mức thấp. Khi vườn bị phun thuốc tràn lan, những loài có ích thường chết trước, sâu hại lại bùng phát mạnh hơn ở lứa sau.
Giữ lại vài bụi cây, vài gốc cây cổ thụ, một dải ven suối, không bẫy chim, không bắt rắn bừa bãi là những cách đơn giản để vườn rẫy có thêm đồng minh tự nhiên. Gặp rắn trong vườn thì tránh xa, không tự bắt; bị rắn cắn phải giữ yên người bị nạn và đưa ngay đến cơ sở y tế, không rạch, không hút nọc theo truyền miệng. Đây cũng là phần "rừng" còn lại ngay trong xã, gần nhà nhất.
Đất rừng và giấy tờ: những điều cần cẩn thận
Ở vùng đồi từng là rừng, chuyện đất đai có nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau: đất được giao, đất khai hoang, đất lâm trường cũ, đất trong quy hoạch ba loại rừng. Một thửa đất đang trồng cao su có thể có giấy chứng nhận đúng mục đích, cũng có thể đang nằm trong quy hoạch lâm nghiệp hoặc chưa đủ giấy tờ. Người mua đất, nhận chuyển nhượng vườn hay thuê đất ở vùng này nên kiểm tra kỹ trước khi xuống tiền.
Nguyên tắc chung: xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi mục đích sử dụng gì, đất có nằm trong quy hoạch ba loại rừng hay không, có tranh chấp hay không. Những thông tin này hỏi ở bộ phận địa chính của chính quyền xã mới hoặc cơ quan đăng ký đất đai, không chỉ tin lời người bán. Đất có nguồn gốc lâm nghiệp chưa được chuyển mục đích hợp pháp có thể gặp khó khi làm giấy tờ, xây dựng hay thế chấp.
Việc phát rừng, đốt rừng làm rẫy, khai thác gỗ trái phép bị pháp luật xử lý nghiêm. Nếu đất nhà bạn giáp rừng, hãy biết rõ ranh giới, không lấn vào phần rừng, và khi thấy người lạ chặt phá rừng thì báo cho kiểm lâm hoặc chính quyền xã.
Người dân và rừng: từ người dùng tới người giữ
Ở nhiều địa phương có rừng, người dân tham gia bảo vệ rừng qua hình thức nhận khoán bảo vệ, tham gia tổ tuần tra, phòng cháy chữa cháy rừng. Khoản thu từ những việc này thường không lớn, nhưng nó gắn người sống cạnh rừng với việc giữ rừng, và giúp cơ quan quản lý có thêm tai mắt.
Ngay cả khi không nhận khoán, mỗi hộ ven rừng đều có thể góp phần: cẩn thận lửa khi đốt dọn rẫy mùa khô, không săn bắt, bẫy thú rừng, không mua bán động vật hoang dã, báo tin khi thấy cháy hay chặt phá. Với trẻ em trong xã, biết tên vài loài cây rừng, vài loài chim quen thuộc là bước đầu để chúng lớn lên coi rừng là một phần của quê mình.
Chính sách về rừng cũng thay đổi theo thời gian: các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng, hỗ trợ trồng rừng, giao khoán bảo vệ có điều kiện và mức hỗ trợ riêng, thường được điều chỉnh qua các giai đoạn. Sau khi chuyển sang tỉnh Lâm Đồng mới, cơ quan quản lý rừng phụ trách địa bàn có thể khác trước, nên khi muốn tham gia, hãy hỏi trực tiếp chính quyền xã hoặc kiểm lâm địa bàn về chương trình đang áp dụng.
Câu hỏi thường gặp
Vườn cao su có được tính là rừng không?
Về sinh thái, vườn cao su là cây trồng công nghiệp. Về pháp lý, việc một vườn cao su nằm trên loại đất nào phụ thuộc vào giấy chứng nhận và quy hoạch: có vườn trên đất nông nghiệp, có diện tích trồng trên đất lâm nghiệp theo các chương trình trước đây. Cần xem giấy tờ cụ thể của từng thửa.
Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có nằm trong xã Suối Kiết không?
Không. Khu bảo tồn Núi Ông nằm trên các vùng núi của Tánh Linh cũ và các địa phương lân cận, không thuộc địa bàn xã Suối Kiết. Nó vẫn quan trọng với cả vùng vì là rừng đầu nguồn của nhiều dòng suối, dòng sông của Bình Thuận cũ.
Mua đất vườn ở Suối Kiết thì làm sao biết có dính đất rừng không?
Xem kỹ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích sử dụng và bản đồ thửa đất. Hỏi bộ phận địa chính của xã về quy hoạch ba loại rừng, quy hoạch sử dụng đất và tình trạng tranh chấp. Khi giá trị giao dịch lớn, nên nhờ luật sư hoặc người am hiểu đất đai kiểm tra trước khi đặt cọc.
Có được tự trồng rừng trên đất nhà mình không?
Được, trồng cây lâu năm hay cây lấy gỗ trên đất của mình là quyền của người sử dụng đất, miễn phù hợp mục đích sử dụng đất. Nếu muốn tham gia các chương trình hỗ trợ trồng rừng hoặc chứng chỉ rừng, nên hỏi cơ quan lâm nghiệp về điều kiện hiện hành.
Thấy người chặt phá rừng thì báo ai?
Báo cho kiểm lâm phụ trách địa bàn, chính quyền xã hoặc công an xã. Nên ghi lại thời gian, địa điểm, đặc điểm phương tiện nếu có thể, nhưng không tự đối đầu với người vi phạm để giữ an toàn cho bản thân.